NỘI DUNG CHI TIẾT PHẢN ÁNH, KIẾN NGHỊ

Tiêu đề: hỏi chế độ bồi thường
Người gửi: Hà Thị Nguyệt
Ngày gửi: 07/07/2020
Nội dung:

 Gia đình tôi có thửa đất trước đây được giao theo nghị định 64 là 300m2, hiện nay thực tế là 500m2 và 01 thửa đất trồng lúa gia đình tự khai phá năm 1993 trồng lúa đến nay có diện tích 650m2, không có tranh chấp. Các thửa đât này chưa được cấp sổ đỏ. Nếu không thu hồi dự án thì gia đình tôi sẽ được cấp sổ đỏ vì nhiều hộ sử dụng như gia đình tôi ở cùng cánh đồng đó cũng mới được cấp sổ đỏ. giờ thu hồi hết đất để làm dự án, gia đình chưa kịp làm sổ đỏ. 

     Gia đình tôi có một vài vướng mắc xin hỏi sở tài nguyên và môi trường:

1. Diện tích đất nông nghiệp tính hỗ trợ ổn định đời sống theo khoản 1 Điều 11 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT gồm những loại đất nào, chỉ gồm loại được giao như gia đình tôi ở trên là 300m2 hay tính là 2 thửa là 1150m2.

Tính % đất bị thu hồi thì tính thế nào, tổng số đất nông nghiệp đang sử dụng gồm những loại nào, gồm tất cả các loại đất nông nghiệp đang sử dụng hay chỉ tính trong tổng số đất nông nghiệp đang sử dụng mà đủ điều kiện như điều 11 nêu trên (số bị chia (phần dưới) gồm những loại nào)

2. tại khoản 12. Điều 17 Quy định 35/2014/QĐ của tỉnh vĩnh phúc ghi: "Hỗ trợ đối với trường hợp thu hồi dưới 30% đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng, mà đất nông nghiệp không đủ điều kiện được hỗ trợ theo quy định tại Điều 14 Bản quy định này thì được hỗ trợ như sau:" Tại  điều 14 quy định hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, không nói gì đến điều kiện hỗ trợ, chỉ ghi nếu thu hồi từ 30% trở lên thì được hỗ trợ ổn định đời sống. vậy, khoản 12 điều 17 này hỗ trợ cho những trường hợp nào, những trường hợp thu hồi dưới 30% nhưng phần này không đủ điều kiện để hỗ trợ là loại nào. Quy định viết thế này không thể hiểu được. có cán bộ bồi thường hướng dẫn gia đình tôi là những hộ thu hồi dưới 30% thì được hỗ trợ khoản này, trên thì không được vì đã được hỗ trợ ổn định đời sống; nhưng cũng có cán bộ bồi thường trả lời gia đình tôi là chỉ hỗ trợ khoản này nếu hộ đó thu hồi dưới 30% và diện tích nay không đủ điều kiện tính hỗ trợ ổn định đời sống nghĩa là điều kiện được quy định tại khoản 2 điều 19 Nghi định 47/2014 được sửa đổi. Vậy quy định này được hiểu là thế nào, mỗi cán bộ thực hiện còn hiểu một kiểu thì hỏi dân hiểu kiểu gì

3. Đối với thửa đất diện tích tăng hơn so với thời điểm giao đất, gia đình tôi không lấn chiếm gì và thửa đất gia đình tôi khai phá, nếu không có dự án hoặc gia đình tôi làm thủ tục sớm chắc giờ cũng đã được cấp sổ đỏ. nhưng hiện nay thu hồi lại tính cho gia đình tôi là ngoài sổ sách, cắt giảm nhiều tiền so với nhiều hộ cũng sử dụng như gia đình tôi nhưng đã được làm sổ đỏ. vậy bồi thường như thế như thế cho gia đình tôi có đúng quy không.

 

THÔNG TIN PHÚC ĐÁP

Tên cơ quan: Sở Tài nguyên và Môi trường
Ngày gửi: 21/07/2020 (Trễ hạn 5 ngày)
Nội dung:

Sở TN&MT Vĩnh Phúc phúc đáp cụ thể như sau:

* Về Đối tượng và điều kiện để được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất được quy định như sau (Khoản 5 Điều 11 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/1/2017 của Chính phủ):

 “1. Đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, gồm các trường hợp sau:

a) Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp khi thực hiện các nghị định gồm: Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; Nghị định số 02/CP ngày 15 tháng 01 năm 1994 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai và khoản 1 Điều 54 của Luật đất đai;

b) Nhân khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình quy định tại điểm a khoản này nhưng phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó;

c) Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp theo quy định tại điểm a khoản này đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai hoang theo quy định của pháp luật, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận là đang trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp đó;

d) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp;

đ) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất của các nông, lâm trường quốc doanh hoặc công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó;

e) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất của tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó;

g) Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được hỗ trợ ổn định sản xuất.

2. Điều kiện để được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật đất đai và điểm b khoản này;

b) Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) quy định tại các điểm d, đ và e khoản 1 Điều này thì phải có hợp đồng giao khoán sử dụng đất.”

* Việc xác định diện tích đất nông nghiệp để tính hỗ trợ ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất như sau (Điều 11 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường):

1. Diện tích đất nông nghiệp thu hồi để tính hỗ trợ ổn định đời sống quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 19 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được xác định theo từng quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, không cộng dồn diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi của các quyết định thu hồi đất trước đó.

2. Diện tích đất nông nghiệp được hỗ trợ ổn định đời sống là diện tích đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng trong phạm vi xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi tại thời điểm có quyết định thu hồi đất, bao gồm:

a) Đất nông nghiệp có nguồn gốc được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi thực hiện Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; giao đất lâm nghiệp khi thực hiện Nghị định số 02/CP ngày 15 tháng 01 năm 1994 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai; Khoản 1 Điều 54 của Luật đất đai năm 2013;

b) Đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật về đất đai đang sử dụng do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai hoang theo quy định của pháp luật, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận là đang trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp đó;

c) Đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất của nông, lâm trường quốc doanh để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ), khi Nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó;

d) Đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng do nhận giao khoán đất của các công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó;

đ) Đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng do nhận giao khoán đất của tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó.

3. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất quy định tại Khoản 2 Điều này bị thu hồi dưới 30% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng mà việc thu hồi đất ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người thu hồi đất thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quyết định biện pháp hỗ trợ khác quy định tại Điều 25 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP cho phù hợp”.

* Mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ ổn định đời sống khi Nhà nước thu hồi đất sản xuất nông nghiệp được thực hiện như sau (Khoản 1 Điều 14 và Khoản 12 Điều 17 Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc):

“…a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 24 tháng;

b) Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 36 tháng;

c) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không nhận tiền hỗ trợ theo quy định tại Điểm a, Điểm b khoản này mà tự nguyện nhận tiền hỗ trợ tính theo m2 đất thu hồi thì được hỗ trợ theo quy định tại Khoản 12 Điều 17 của Quy định này.”

 “12. Hỗ trợ đối với trường hợp thu hồi dưới 30% đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng, mà đất nông nghiệp không đủ điều kiện được hỗ trợ theo quy định tại Điều 14 Bản quy định này thì được hỗ trợ như sau:

a) Đất sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản: 15.000 đồng/m2 nếu không phải di chuyển chỗ ở; 20.000 đồng/m2 đối với trường hợp phải di chuyển chỗ ở;

b) Đất rừng trồng sản xuất: 1.500 đồng/m2 nếu không phải di chuyển chỗ ở; 2.000 đồng/m2 đối với trường hợp phải di chuyển chỗ ở;

c) Diện tích đất thu hồi được hỗ trợ quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản này được xác định theo từng quyết định thu hồi đất của cấp có thẩm quyền và không được tính cộng dồn vào diện tích đất nông nghiệp thu hồi lần sau.”

Việc xem xét tính toán hỗ trợ ổn định đời sống cho hộ gia đình, cá nhân  khi nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo các quy định trên. Đối với trường hợp cụ thể, đề nghị bà Nguyệt liên hệ trực tiếp với UBND cấp huyện (cơ quan có quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, phê duyệt phương án bồi thường GPMB cho hộ gia đình,cá nhân) để được xem xét theo trả lời theo quy định.

 

Đánh giá: